Chế độ lưỡng đầu chế và vì sao Vua Lê - Chúa Trịnh cùng tồn tại? - LỊCH SỬ VIỆT NAM - YÊU SỬ VIỆT - VIETNAMESE HISTORY - HISTORY OF VIETNAM

Chế độ lưỡng đầu chế và vì sao Vua Lê - Chúa Trịnh cùng tồn tại?

Share This
Lịch sử việt nam, vietnamese history, ho chi minh, vo nguyên giáp general, trần hưng đạo, việt nam sử lược, trần trọng kim, lê thái tổ, nhà trần, gia long, quang trung, lê thánh tông, chiêm thành, thăng long, phan thanh giản, Tứ Phủ Xét Giả

YEUSUVIET - Trong lịch sử Việt Nam, quả là các chúa Trịnh đã dùng “trăm phương ngàn kế” để vô hiệu hoá vai trò của các vua Lê, không ngần ngại sử dụng cả những biện pháp bạo lực tàn độc quyết liệt nhất. Kết quả là, trong khoảng thời gian hơn hai trăm năm “đồng tồn tại”, không một vị vua nào của nhà Hậu Lê (Lê Trung hưng) thể hiện được mình trong nền chính trị hiện thực với tư cách người làm chủ quốc gia, làm chủ vương triều. 


Bài liên quan
>>> COVID-19 và Những đại dịch bệnh trong lịch sử Việt Nam
>>> Nội chiến Nam - Bắc triều - Nhà Mạc và bài học đoàn kết quốc gia.
>>> Cù Lao Phố, Biên Hòa, Đồng Nai - Bao giờ trở lại huyền thoại xưa!?
>>> Những lần thay đổi triều đại trong Sử Việt - Phần 1
>>> Đánh giá về Triệu Đà trong các bộ sách Sử Việt.


Căn cứ vào sử liệu, không một người quan sát hay nhà nghiên cứu nghiêm túc nào từng dành cho các vua Lê thời ấy những lời nhận định, đánh giá tích cực. Tuy nhiên, bất chấp những điều đó, chỉ tính từ năm 1592 trở đi (thời điểm tập đoàn Lê - Trịnh chiếm lại được kinh đô Thăng Long, chính thức trở lại vị thế quyền lực chính trị trung ương) cho đến khi Lê Chiêu Thống rước quân Mãn Thanh vào, các vua Lê vẫn là “những vị quốc chủ” – đó không đơn giản chỉ là hình thức. Có nhiều lý do có sức nặng hiện thực hơn người ta vẫn tưởng khiến cho các vua Lê duy trì được vị thế tuy mong manh, lay lắt mà vẫn khá bền vững ấy.  


Lý do quan trọng đầu tiên: vương quyền của nhà Lê là điều kiện sống còn để duy trì sự tồn tại của thế lực chính trị họ Trịnh. Trên thực tế, việc họ Mạc giành được ngôi vua vốn đã diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt rối ren, bởi từ sau thời điểm Lê Hiến Tông mất (1504), quyền lực nhà nước trung ương đã bắt đầu khủng hoảng. Hơn 20 năm tiếp theo, cho đến 1527, có đến 5 vị vua thay thế, tranh giành, sát hại lẫn nhau. Triều chính càng rối ren, việc giành quyền lực thực tế càng dễ dàng, và trên thực tế, quyền lực đó nằm trong tay các võ tướng nắm được bộ phận binh quyền chủ yếu nhất. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại xuất hiện những ông vua bị cả người trong lẫn ngoài nước định danh là “vua quỷ”, “vua lợn” như Tương Dực, Uy Mục. 


Kẻ bề tôi đầu tiên dám giết vua là một người họ Trịnh: Trịnh Duy Sản (1516), một người họ Trịnh khác - Trịnh Duy Đại - thực hiện một hành vi không tiền khoáng hậu tiếp theo: cướp vua nhỏ mới được lập chưa kịp định niên hiệu (là Quang Trị, 8 tuổi) mang về Tây Đô. Đám quần thần võ tướng còn lại bèn nhanh chóng tìm lập ngay một “vua nhóc” khác (mới 14 tuổi). Một thời gian sau do không hình thành nổi vương triều với ông vua mình cướp mang đi ấy, Trịnh Duy Đại giết Quang Trị. Nhưng số phận và hình tích của Chiêu Tông Thần Hoàng đế cũng chẳng thể tốt lành. Lời cẩn án của sử thần đời sau thiết tưởng quá rõ: 


“… ở ngôi 7 năm, bị Mạc Đăng Dung giết, thọ 26 tuổi, chôn ở lăng Vĩnh Hưng. Bấy giờ trong buổi loạn lạc, quyền bính không ở trong tay, bên trong thì nghe lời xiểm nịnh gian trá, bên ngoài thì lại ham mê săn bắn chim muông, ngu tối bất minh, ương ngạnh tự phụ, bị nguy vong là đáng lắm!”.


Việc Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, giết cả hai vua (Chiêu Tông và Cung Hoàng) vào năm 1527 diễn ra yên ả, không gây xáo trộn gì đáng kể. Sử thần Đăng Bính về sau bàn rằng: 


“Trong lúc ấy, các đại thần cả triều đều trơ mắt ngậm miệng, người nọ liếc trộm người kia… Lúc bấy giờ, kẻ quyền gian thế lớn, bọn thần hạ khác lòng, thiên tử bị cô lập ở trên, cả triều không một ai có thể uỷ thác được, muốn không sụp đổ, có thể được không?”.


Thật ra, cũng có một người dám bày tỏ sự bất đồng, đó là Trương Phu Duyệt, thượng thư Lại bộ, cự nự từ chối việc nhân danh vua Lê thảo chiếu nhường ngôi cho Mạc Đăng Dung. Còn thì cả 56 “khai quốc công thần” của nhà Mạc, tức là “bộ sậu” của vương triều cũ, hầu như đều yên vị, dẫu vương quyền đã đổi chủ! Vào thời điểm Nguyễn Kim tìm được hậu duệ của vua Lê rồi dựng cờ Cần vương trên đất Ai Lao (1533), nhà Mạc đã kịp làm cho “nước giàu dân mạnh”.


Chính sử thần nhà Lê về sau cũng phải thừa nhận rằng, vào thời gian đó:


“Họ Mạc ra lệnh cấm người các xứ trong, ngoài không được cầm giáo mác và dao nhọn, can qua, cùng những binh khí khác hoành hành trên đường đi. Ai vi phạm thì cho phép quan ty bắt giữ. Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ cần mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc của mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên”.


Việc trị nước an dân của nhà Mạc, nếu không bị can qua làm rối loạn và gián đoạn, hẳn đã có thể đạt tới những thành tựu đầy ấn tượng.  


Lịch sử việt nam, vietnamese history, ho chi minh, vo nguyên giáp general, trần hưng đạo, việt nam sử lược, trần trọng kim, lê thái tổ, nhà trần, gia long, quang trung, lê thánh tông, chiêm thành, thăng long, phan thanh giản, Tứ Phủ Xét Giả


Vậy thì lý do gì khiến cho lòng người vẫn không nhất tâm hướng theo chính quyền nhà Mạc, một chính quyền dù sao cũng ít nhiều đáp ứng được những nguyện vọng tối thiểu của cư dân nông nghiệp là “an cư lạc nghiệp”? Lời chiếu vào dịp thu phục lại kinh đô Thăng Long năm 1592, tuy về danh nghĩa là do vua Lê ban ra, song chắc chắn đã được Trịnh Tùng cân nhắc, suy ngẫm từng câu chữ, giải thích phần nào lý do chính yếu: 


“Nhà nước ta, Thái Tổ Cao hoàng đế ứng mệnh trời, thuận lòng người, thừa cơ mở vận, theo nghĩa lớn dẹp hung tàn, được thiên hạ rất chính đáng, quy mô dựng nước đã rộng lớn lại lâu dài. Thái Tông Văn hoàng đế nối lời dạy bảo, xướng suất kẻ dưới; Nhân Tông Tương hoàng đế rạng công người trước, rõ sáng đức xưa; Thánh Tông Thuần hoàng đế sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh; Hiến Tông Duệ hoàng đế kê xét điển chương, chấn chỉnh bốn phương rường mối. Mọi điển chương pháp độ để giữ cơ nghiệp đã tường tận và đầy đủ cả rồi. Các đời truyền nối, mưu lớn công to, mở mang phò tá, đều theo lẽ chính, người sau có thể giữ mãi đời đời”.


Nói theo ngôn ngữ trước đây, vương triều Lê sơ, kể đến Lê Hiến Tông, đã góp vào lịch sử nước nhà những kỳ tích lớn lao cả về võ công, lẫn về văn trị. Xét đoạn lời chiếu đã dẫn bằng cái nhìn lịch sử chính trị học ngày nay, có thể nhận định rằng, những lời lẽ đó, về cơ bản, là xác đáng.  


So với nhà Lê, nhà Mạc không có võ công gì đáng kể đối với đất nước, không những thế, còn bị “bêu tên” nặng là “bán nước”, nhẹ là “làm nhục quốc thể”, mà về văn trị cũng không có gì mới mẻ, vượt lên cao, đi xa hơn một cách đáng kể, tuy ở một vài phương diện có những bước tiến nhất định, so với thời kỳ hưng thịnh của nhà Lê. Mô hình tổ chức và quản lý xã hội trong lịch sử Việt Nam đạt tới trạng thái cổ điển của một hình thái lịch sử là dưới triều Lê Thánh Tông, vị hoàng đế sáng danh nhất trong lịch sử quốc gia – dân tộc. “Lòng người” - chủ yếu là “dân ý”, “dân tâm”,- vẫn “quyến luyến nhà Lê” là một sự thật lịch sử. Có thể coi đó là lý do căn bản nhất để ngôi vị hoàng đế của nhà Lê vẫn được duy trì như một thành tố quan trọng của cơ chế quyền lực.  


Không bàn tới hành trang, nhân cách và tài năng của từng vị chúa Trịnh cụ thể, từ góc nhìn vĩ mô, có thể khẳng định rằng sự tồn tại của ngôi chúa và bộ máy quyền lực phái sinh của phủ chúa bên cạnh ngôi vua không đem lại được những đóng góp mang tầm lịch sử khác biệt về chất vì lợi ích quốc gia – dân tộc. Nếu gác việc khuông phò, giúp rập triều đình nhà Lê ra ngoài, vương phủ Trịnh tộc không còn lý do tồn tại.   


Suốt hơn 200 năm tồn tại của chính quyền Lê - Trịnh, triều đình vẫn được phân biệt một cách bắt buộc đối với phủ liêu. Cũng trong suốt thời gian đó, nếu từ phía các chúa Trịnh chưa bao giờ nguôi khát vọng “xoá sổ” Lê Triều, từ Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng cho tới Trịnh Sâm đều “mong mỏi đến cháy lòng” được tự xưng là Trẫm, được bá quan tung hô “vạn tuế”, và mọi toan tính lẫn hành vi hiện thực đầy rẫy để thực thi khát vọng đó đều nhất loạt có chung một kết cục là thất bại. Trong khi đó, từ phía các vua Lê và hoàng tộc, từ phía nhiều ông quan phụng sự triều đình, thậm chí từ cả nhiều thành viên xuất sinh từ gia tộc họ Trịnh vẫn thường xuyên xuất hiện những cá nhân hoặc nhóm người muốn lật nhào ngôi chúa, dẹp bỏ cái “vương phủ” mà họ nhất tề coi là nghiệp chướng và sẵn sàng tiến hành khi có cơ hội. Nhận thức ấy, tâm thế ấy cũng là nhân tố thường trực ở sĩ dân trong nước, khiến “bạo loạn” nhân danh việc chống lại kẻ “bức hiếp vua ta” vẫn đời nối đời diễn ra.  


Không thể khẳng định một cách giản đơn rằng, ngôi vua của các vua Lê chỉ là chiếc ngai vàng vô hồn trống rỗng, dù đa số các ông vua nhà Lê từ thời trung hưng trở đi là vô vị. Cá nhân là một chuyện, cơ chế lại là chuyện khác. Đó là một chân lý sơ đẳng cần phải được nhận thức trong chính trị học!  


Cơ chế lưỡng đầu chế về quyền lực là một thực tế lịch sử thời Lê - Trịnh. Xét từ một góc độ khác, ngôi vị của nhà Lê càng trở nên tất yếu trong các quan hệ đối ngoại, vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ Đàng Ngoài. Nếu các chúa Trịnh truất bỏ và thay thế ngôi vị của vua Lê, chắc chắn các chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng không vì lý do gì mà không tự lập thành một quốc gia thực thụ. Cũng chắc chắn rằng, trong mối quan hệ ngoại giao với triều đình nhà Minh rồi sau đó là triều đình nhà Thanh, họ Trịnh không làm cách gì để được các Thiên tử của “Thiên triều” thừa nhận quốc hiệu An Nam, tước vị An Nam quốc vương. Đó là chưa nói rằng, nhìn vào lịch sử cận đại, họ Trịnh cũng được các sử gia chính thống xem xét không khác gì nhà Mạc, thậm chí còn tệ hại hơn!


Yêu Sử Việt theo http://philosophy.vass.gov.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chủ đề

yeu-su-viet (330) lich-su-viet-nam-qua-cac-thoi-ky (127) su-viet-hom-nay (89) nha-nguyen (84) danh-nhan-su-viet (83) su-kien-su-viet (70) sach-lich-su (57) facebook (53) chong-phap (47) nha-hau-le (42) chua-nguyen (36) sach-su-hien-dai (35) tai-lieu-su-viet (35) nha-tran (34) bac-thuoc (33) nha-ly (29) nha-tay-son (29) vua-chua-su-viet (29) chua-trinh (21) dia-danh-su-viet (21) phim-truyen (20) quang-trung (18) vo-tuong (18) cac-cuoc-noi-chien (16) Danh mục sách lịch sử Việt Nam hay (14) Cách mạng Việt Nam (13) gia-long (13) nguyen-mong (12) nha-dinh (12) phim-su-viet (12) dinh-tien-hoang (11) le-dai-hanh (11) nha-tien-le (11) dien-tich-su-viet (10) sach-luat (10) viet-su-kieu-hung (10) minh-mang (9) nguyen-anh (9) tay-son-that-ho-tuong (9) trinh-nguyen-phan-tranh (9) nha-ho (8) tran-hung-dao (8) khoi-nghia-lam-son (7) ly-thuong-kiet (7) mien-trung (7) ngu-ho-tuong-gia-dinh (7) nha-mac (7) an-duong-vuong (6) chiem-thanh (6) hai-ba-trung (6) ho-quy-ly (6) hung-vuong (6) le-thanh-tong (6) ly-thai-to (6) tieu-thuyet-lich-su (6) mien-bac (5) mien-nam (5) nha-tien-ly (5) gac-ma-1988 (4) le-quy-don (4) le-thai-to (4) mac-dang-dung (4) nha-ngo (4) trung-vuong-she-kings (4) Alexandre-de-Rhodes (3) cham-pa (3) chien-tranh-bien-gioi (3) dai-nam (3) dao-duy-tu (3) hai-chien-truong-sa (3) hung-dao-vuong (3) huyen-tran-cong-chua (3) lịch sử việt nam qua các thời kỳ (3) nam-bac-trieu (3) vuong-quoc-co (3) xiem-la (3) chien-tranh-viet-xiem (2) dieu-tan (2) hinh-anh-su-viet (2) loa-thanh-ruc-lua (2) 17-2-1979 (1) Chế Thị Ngọc Hân (1) Cách mạng khoa học công nghệ (1) Cách mạng tháng 10 Nga (1) Lịch sử thế giới 1945 - 2000 (1) a-cha (1) am-che (1) chua-tien (1) dai-viet-co-phong (1) hai-chien-hoang-sa (1) kieu-binh (1) mai-hac-de (1) y-van-hien (1) Đông Kinh Nghĩa Thục (1)